Chương 18 · Kết luận — Sự toàn thiện của đức xả ly
CÂU 30

pravṛttiṁ ca nivṛttiṁ ca kāryākārye bhayābhaye
bandhaṁ mokṣaṁ ca yā vetti buddhiḥ sā pārtha sāttvikī
pravṛttim—hành động; ca—cũng; nivṛttim—không hành động; ca—và; kārya—cái gì nên làm; akārye—cái gì không nên làm; bhaya—sự sợ hãi; abhaye—và sự can đảm; bandham—ách nô lệ; mokṣam—sự tự do; ca—và; yā—cái mà cái đó; vetti—biết; buddhiḥ—hiểu; sā—đó; pārtha—hỡi con trai của Pṛthā; sāttvikī—trong hiền tính.
Con trai của Pṛthā ơi, lý trí giúp con người biết điều gì nên làm và điều gì không, điều gì nên sợ và điều gì không, điều gì trói buộc và điều gì giải thoát là lý trí ở hiền tính.
GIẢI NGHĨA: Những hành động được tiến hành phù hợp với chỉ giáo của các Thánh Kinh được gọi là pravṛtti hay việc nên làm. Những hành động trái ngược với chỉ giáo của các tập Kinh Veda là những điều không nên làm. Con người bị rối rắm trong lưới hoạt động và những quả báo của nó bởi vì anh ta chẳng biết những lời chỉ giáo của Thánh Kinh. Lý trí biết suy xét đúng đắn là lý trí ở hiền tính.